Enter your keyword

Mã tiền

Mã tiền

MÃ TIỀN

DƯỢC LIỆU CHỨA ANCALOIT CÓ NHÂN INDOL

hạt mã tiền

Nux vomica – Semen Strychni

Mã tiền – Nux vomica hay Semen Strychni – là hạt phơi hay sấy khô của cây Mã tiền hay cây Củ chi Strychnos nux vomica Linn. hoặc một số loài mã tiền khác Strychnos sp. Có hạt giống như khuy áo, có chứa strychnin và đều thuộc họ Mã tiền (Loganiaceae)

Mô tả cây

Ở nước ta khai thác ít nhất hai loài Mã tiền:

  • Cây mã tiền – Strychnos nux vomica Linn. hiện chỉ mới thấy mọc ở miền Nam là một cây nhỏ, mọc thẳng đứng, có vỏ sám, dôi khi có gai; lá mọc đối và có lá kèm, cuống ngắn, phiến hình bầu dục, hai đầu hơi nhọn, gân lá hình lông chim, nhưng ở mỗi bên gân chính có một đôi gân phụ chạy dọc theo lá và nổi ở mặt dưới. Hoa nhỏ, màu hồng, họp thành xim hình tán, đều, lưỡng tính, tràng và đài 5 cánh; đài hình phễu với 5 lá đài hình ba cạnh, tiền khai hoa lợp, tràng hình ống, hơi phình ở phía dưới, mặt trong có lông, trên miệng phễu chia 5 thùy so le so với lá đài; trong nụ có tiền khai hoa vặn. 5 nhị đính ở họng của ống tràng, chỉ nhị rất ngắn, mang bao phấn có hai ngăn. Bầu có 2 tâm bì, vòi đơn. Quả mọng hình cầu, to bằng quả cam, có chứa cơm màu trắng, nhiều hạt hình khuy áo, phôi thẳng đứng, xung quang có nội nhũ sừng.
  • Các cây Mã tiền khác hiện đang khai thác ở miền Bắc hầu hết là dây leo thân có thể to bằng bắp đùi, tên khoa học chưa xác định được chắc chắn. Nhưng tỷ lệ strycin không khác tỷ lệ trong hạt mã tiền Strychnos nux vomica. Cũng là dây leo có nơi chỉ khai thác vỏ để bán với tên Hoàng Nàn lại có nơi chỉ khai thác hạt để bán với tên Mã Tiền. Điều quan trọng hiện nay là khai thác như thế nào để bảo vệ được loài cây và bộ phận nào có nhiều strycnin nhất là dễ chiết.

cây mã tiền

Địa lý thu hái và chế biến

Mã tiền mọc hoang ở khắp các tỉnh miền núi nước ta, thường hay gặp ở những vùng có núi đá. Nhưng lại những vùng núi đất cũng thấy mọc. Hiện chưa ai nghiên cứu trồng và chưa ai rõ trồng như thế nào thì sống; trồng bao nhiêu lâu thu hoạch; điều kiện để hạt chứa nhiều hoạt chất. Các tỉnh hiện đang được khai tác là Tuyên Quang, Hòa Bình, Vĩnh Phú, Bắc Cạn, Hà Bắc, Bắc Thái. Còn mọc ở một số nước khác như đông và nam Ấn Độ, Thái Lan, châu Úc.

Hạt mua vào tháng 9 – 10 lấy ở quả ra chọn lọc loại tốt ấu, đem phơi nắng.

Xuất cảng ở Bombay, Nam bộ Việt Nam, Mã đảo, gửi sang Luân – Đôn (châu Âu)

Số liệu xuất cảng ở Việt Nam: Trong 2 năm 1925 – 1926 đã xuất cảng 2.176.446 kg, trung bình 1 năm 1.088.223kg khi ấy xuất cảng sang: Pháp (565.226kg), Hồng Kong (21.730kg), Anh (141.626kg).

Bộ phận dùng

Hạt

Hạt hình khuy áo, tròn dẹt, quanh mép dày lên, giữa cũng phồng lên, nhưng vành trong mép lõm xuống.

Đường kính 18 – 25 mm, bề dày 4 – 6 mm.

ở một mặt, nơi lồi giữa có một vết lõm trông rõ một sẹo của cán phôi, gọi là tễ. Từ tễ ra mép có một đường gân nhỏ, có khi trông không rõ.

Hạt hình bóng, mượt là vì có rất nhiều lông mọc ngả từ giữa ra phía ngoài.

Màu xám nhạt hay xanh nahtj, để lâu có khi ngả màu vàng nhạt. Cắt dọc theo hạt, ta sẽ thấy ở mép một bên phôi nhũ một phôi nhỏ, cuống phôi hơi nở ra, có hai lá mầm rất nhỏ.

Phôi nhũ rất lớn, cứng như sừng, màu trắng hạt, xung quanh có một vỏ cứng và có màu.

Nếu cắt ngang, ở giữa hạt, ta sẽ thấy một lỗ rộng.

Hạt Mã tiền rất cứng; muốn tán nhỏ phải đồ để làm mềm. Khi đồ, các tế bào hút nước rất nhiều.

Không có mùi, vị rất đắng.

Khi vi phẫu hạt, ta sẽ thấy phía ngoài có một lớp lông đặc biệt, ở cuống thẳng đứng, rồi bò ngang. Cuống hơi phình ra, rất dày. Từ cuống tỏa ra những lông trông như sợi không tết của một dây.

Nếu tán bột, các sợi này tách rời và đứt thành từng mẩu ngắn.

Dưới lớp lông là một lớp tế bào cương mô hóa, det, mặt hơi lượn sóng, thành dày, trông không rõ lắm.

Phía trong là nội nhũ có tế bào nhiều cạnh, thành dày, cành vào trong càng dày lên.

Cuối dùng là phôi.

Không có tinh bột, ít hạt dầu, a-lơ-rôn, chất anbuminoit, ancaloit.

Bột mã tiền: Có những đặc điểm sau đây: Tế bào biểu bì, một số biến thành lông hình bình cổ cong đáy rộng và cương mô hóa.

Nhiều mẩu lông hình gậy ngắn.

Mảnh nội nhũ như sừng gồm các tế bào bóng, giống tinh thể, thành có chấm, một số có chấm, một số có các hạt dầu vàng và hạt tinh bột.

Ngoài ra còn một số hạt tinh bột nhỏ hình cầu của cơm quả dính vào hạt.

Phản ứng định tính:

  • Cắt ngang hạt Mã tiền. Nhỏ acid nitric đặc, sẽ xuất hiện màu đỏ thẩm ở vùng nội nhũ (bruxin)
  • Nhỏ thuốc thử sunfovanadic (vanadat amonium trong H2SO4), nội nhũ có màu tím (strycnin)

Thành phần hóa học

Thành dày của nội nhũ gồm các mannan và galactan. Thủy phần các chất đó sẽ cho mannoza và galactoza. Tỉ lệ mannan là 15%; còn galactan là 85%

Trong tế bào có:

  • Một chất dầu: 4 – 5%
  • Một heterozit (=loganozit hay loganin) 1,55%
  • Nhiều ancaloit: có những thứ chỉ có rất ít như α và β colubrin, vomicin, struxin, pseudostrycnin. Hai ancaloit quan trọng là strycnin và brucin kết hợp với 2 acid igasuric (clorogenic).

Tro (1 – 3,5%) chứa silic và một ít đồng.

Tỉ lệ ancaloit taonf phần trong mã tiền thay đổi tùy theo nguồn gốc và chừng 2,73 – 3,13%. Có loại như mãu tiền Xây lăng, tỉ lệ lên tới 4,5 – 5,34%.

Thường người ta cho rằng strycnin chiếm 43 – 45% của tổng số khối lượng strycnin và brucin.

Tác dụng dược lý

Đối với hệ thần kinh

Kích thích hệ thần kinh: tác dụng cả với trung khu và ngoại vi

+ Đối với trung khu, tác dụng đặc biệt và hành tủy và tủy sống, nhất là vào chất xám.

Nó kích thích trung khu hô hấp; nhưng nếu sự kích thích kéo dài (liều cao) sẽ có sự co cứng các bắp thịt hô hấp và sinh ngạt.

Nếu ta thấy riêng thần kinh tọa cốt một con ếch và làm ngừng sự tuần hoàn trong bắp thịt, tiêm strycnin và túi bạch huyết ở bụng, ta sẽ gây sự co giật của chấn.

Nếu cắt thần kinh tọa cốt, sẽ làm mất sự co giật của chân.

Cắt đầu ếch, cắt bỏ tủy ở cổ, vẫn còn co giật nhưng nếu cắt bỏ tủy sống thì hết co giật.

Vật strycnin đúng là một thuốc kích thích thần kinh vận động.

+ Đối với ngoại vi. Nó kích thích các sợi thần kinh với hiện tượng giảm thời trị (chronaxie) tới 50% của thời trị bình thường, tác dụng này thể hiện cả đối với các sợi thần kinh riêng biệt.

Hiện tượng khác thời rị giữa thần kinh và bắp thịt đưa đến một hiện tượng nhiễm độc curaro, thực tế chỉ là nhiễm độc curaro giả vì nguồn gốc là do thần kinh chứ không do bắp thịt.

Ta còn chứng kiến hiện tượng giãn đồng tử (lồi mắt ra khi co quắp, và các hiện tượng vận mạch). Nếu dùng liều điều trị, strycnin có tác dụng bổ đối với tế bào thần kinh và tác dụng kích thích đối với các trung khu thần kinh: nó tăng hoạt động, đồng thời nó điều hòa và phối hợp trong các cử động phản xạ và cử động do ý chí.

Đối với tim và bộ máy tuần hoàn

Tăng huyết áp (có thể gấp hai huyết áp trung bình vì các mạch máu ngoại vi co nhỏ, sự co mạch là nguồn gốc phản xạ do tác dụng đối với các trung khu vận mạch trong hành tủy.

Dạ dày

Tăng sự bài tiets dịch vị, nhất là đối với những người kém tiêu, tăng tốc độ thức ăn chuyển sang ruột do sự kích thích nhu động của các cơ vòng, nhưng tác dụng này chỉ nhất thời nếu dùng luôn sẽ gây rối loạn của sự tiêu hóa, rối loạn sự co bóp của dạ dày.

Nó tăng sự bài tiết mồ hôi và nước tiểu, nhưng tác dụng co mạch làm giảm tiết mật, dịch tụy và nước tiểu

Tác dụng chống nhau (đối kháng)

Rượu làm chậm hiện tượng tê liệt hô hấp của strycnin.

Sự đối kháng giữa strycnin và bacbituric quan trọng nhất và có thể dùng để giải độc cho nhau.

Chất canxi, magie, brom, natri cũng có tác dụng ngược lại với tác dụng của strycnin.

Trái lại Natri borat tăng tác dụng của strycnin.

Sự tích trữ và sự bài tiết

Bài tiết qua mật, rất ít qua nước tiểu.

Strycnin cố định ở gan, tích trữ trong các hồng huyết cầu ở gan và co thể chuyển vào tuần hoàn một cách đột nhiên.

Độc tính của mã tiền và strycnin

Mã tiền là một vị rất độc. Độc tính của nó gần giống độc tính của strycnin là ancaloit chính trong mã tiền.

Đặc biệt mã tiền là loại thuốc kích thích tủy sống.

Sự hấp tụ ở mọi đường. Nhưng nếu dạ dày có thức ăn, sự hấp thu hơi chậm.

Nếu uống hoặc tiêm strycnin nguyên chất, sẽ thấy strycnin nguyên chất trong cơ thể (máu, trung tâm thần kinh, chất xám, nhiều nhất ở tim và thận). Strycnin bài tiết cũng ở thể nguyên chất, nhất là ở nước tiểu và nước dãi.

Đã từ lâu, người ta cho rằng không bao giờ có hiện tượng quen thuốc, chỉ có hiện tượng tích thuốc; nhưng nhiều người lại cho rằng cơ thể rất chóng quen thuốc và có thể dùng liều khá cao mà không thấy triệu chứng ngộ độc.

Strycnin độc với tất cả mọi giống vật; liều tối thiểu gây chết là (tiêm một lần, dưới da, cho 1kg thân thể): 6/10 mg đối với thỏ, 7/10 mg với chó; 4/10 mg với người, nghĩa là chừng 3cg cho một người nặng 70kg.

Strycnin tác dụng lên khắp các cơ quan, nhất là đối với dạ dày, hệ thần kinh và tim.

Strycnin base  ít độc hơn các muối strycnin tan, vì sự hấp thụ chỉ từ từ.

Triệu chứng ngộ độc vì mã tiền và strycnin

Ngáp, nước dãi ra nhiều, nôn mửa, bồn chồn, ngứa ngáy, kiến bò, sợ ánh sáng, mạch nhanh và yếu; tứ chi cứng đờ, co giật nhẹ rồi đột nhiên có triệu chứng như uốn ván nặng, với hiện tượng co cứng hàm (khít hàm), hiện tượng thân cong ra sau, lồi mắt, đồng tử mở rộng, cơ tứ chí và thân bị co; sự co các cơ ngực gây khó thở và ngạt.

Sau vài phút, các hiện tượng đó hết, nhưng sau lại tái diễn hoặc đột nhiên do những lý do rất thường. Sau 5 phút đến 5 giờ thì chết vì ngạt, sau 2 đến 5 cơn giật như vậy. Tinh thần vẫn minh mẫn đến lúc chết. Có thể chết do trụy tim.

Cách điều trị

Rửa dạ dày, điều trị bằng các vị chống ancaloit (như cà phê đặc, tanin), chất oxy hóa, cloral liều mạng 6-8-10g hoặc thụt với liều 2 – 4g hoặc tiêm mạch máu với liều 1g mỗi lần, ngày tiêm tối đa 6g. Tốt nhất nên dùng nlojai thuốc ngủ bacbituric: gacdenal 1g; thường 1/3 liều gây chết của gacdenal trung hòa liều gây chết strycnin.

Hô hấp nhân tạo: phải kiên nhẫn làm thật lâu

Công dụng

Mã tiền dùng điều trị rất có hiệu lực đối với bệnh bại chân, bại tay, liệt hai chi dưới, bệnh đái rắt, vài trường hợp tê liệt.

Rất hay dùng trong các bệnh đau dạ dày, chứng khó tiêu do suy nhược, bệnh táo nặng, bệnh cơ năng suy nhược.

Rất hiệu lực trong sự điều trị ngộ độc bằng thuốc ngủ (Một trường hợp ngộ độc bằng 3gam veronal đã được điều trị khỏi trong 6 giờ bằng tiêm bắp thịt tới 18mg strycnin; một trường hợp ngộ độc bằng 4 gam gacdenal đã được điều trị khỏi bằng tiêm mạch máu 39 centigam strycnin dùng trong 60 giờ.

Còn dùng trong bệnh cúm, sốt rét cơn, viêm phế quản, lao, …

Dùng làm thuốc kích thích hành tủy trong các trường hợp giải phẫu não.

Hình thức dùng

Bột: 0,05 – 0,30g một ngày (thuốc độc bảng A)

Cao (phải có 16% ancaloit): 0,01 – 0,05g mỗi ngày (thuốc độc bảng A)

Cồn thuốc (0,25% ancaloit): 0,05 – 3g mỗi ngày.

Strycnin. Dùng dưới hình thức muối sunfat, dạng hạt 1 miligam mỗi hạt, dung dịch, siro, potio, hay tiêm dưới da.

Liều tối đa 1 lần: 6 miligam; 24 giờ: 18 miligam. Liều này có thể vượt hơn tùy theo mỗi người. Thường nên bắt đầu liều nhẹ ( 1 – 2 miligam) tăng dần lên tới liều tối đa 18mg.

Chất bruxin ít được dùng. Tác dụng như strycnin, nhưng ít độc hơn ( ít nhất 12 lần kém độc). Theo Rabuteau, có thể dùng liều 10 – 20 lần cao hơn strycnin, nhưng tăng dần vào theo dõi kết quả.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

lovemama.vn

    ĐẶT MUA SẢN PHẨM

    Giao hàng toàn quốc (Tận nơi - Giá tốt)

    Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

    Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin

    096 419 6541