Enter your keyword

Thuốc lá

Thuốc lá

THUỐC LÁ 

DƯỢC LIỆU CHỨA ALCALOID CÓ NHÂN PYRIDIN 

Cây Thuốc lá

Tên khoa học: Nicotina sp.

Tên khác: Yên Thảo (Trung Quốc), Tabac (Pháp)

Họ: Cà (Solanaceae)

Bộ phận dùng: Lá (Folium Nicotianae)

Mô tả cây Thuốc lá

Cây thuốc lá thuộc nhiều loại Nicotiana. Ở Việt Nam có Nicotiana tabacum Linn. và nhiều thứ khác. Đó là một loại cỏ mọc hàng năm. Cao từ 0,6m đến 1,5m, thẳng, có lông ở thân và ở lá, trông mềm mại.

Lá hình bầu dục hay hình thon, mọc so le, không có cuống, một mẩu lá phía dưới ôm vào thân. Là phía trên có dáng thuôn, dài hơn lá phía dưới.

Hoa tự mọc thành chùy ở đầu cành có nhiều hoa mang cuống. Đài có lông, tràng màu trắng, hồng hay tím nhạt. Đài và tràng đều liền cánh. Tràng dài gấp 4 – 5 lần đài, phía dưới thành ống nhỏ, phía trên loe rộng ra.

Quả là một nang hai ngăn, hạt nhỏ và nhiều.

Ở Việt Nam có cây thuốc lào cũng thuộc loài Nicotiana nhưng chưa rõ thuộc thứ nào. Thân thấp hơn, lá to và dày hơn. Cách sử dụng về hút khách thuốc lá, nhưng về thuốc thì giống thuốc lá.

Ruộng cây Thuốc lá

Trồng trọt & thu hái

Trồng bằng hạt. Trước hết phải gieo hạt. Khi cây con cao chừng 10 – 15 cm mới đánh đi trồng chỗ khác. Mỗi cay trông cách nhau 65 c, (tỷ lệ Nicotin càng cao, nếu các cây trồng cách xa nhau).

Hía lá phải hái từ dưới lên, khi trên lá bắt đầu có môt vài điểm ngả màu vàng. Phơi khô trong mát.

Thuốc lá để làm thuốc chỉ cần phơi khô là dùng được. Nhưng để hút, các lá phải chết hóa phức tạp để lấy hương vị

Địa lý

Thuốc lá được trồng ở khắp nơi trên thế giới: Liên Xô, Trung Quốc, Bun-ga-ri, Mỹ, Pháp, Anh, …

Ở Việt Nam việc trồng thuốc lá cũng được tiến hành khắp nơi nhất là từ sau Cách mạng; vì hồi Pháp thuộc việc trồng thuốc bị hạn chế, phải xin phép, và chỉ tập rung vào một số tỉnh ở Bắc Bộ: Hải Hưng (Vĩnh Bảo), Hải Phòng (Tiên Lãng), Thái Bình, Bắc Cạn và Bảo lạc; ở Trung Bộ: Khánh Hòa, Quảng Trị, Quảng Bình; ở Nam Bộ: Gia Định và Thủ dầu một.

Số lượng sản xuất thuốc lá trên thế giới rất cao: Năm 1939, cả thể thới sản xuất ước chừng 2.500.000 tấn: Châu Âu 500.000 tấn (Liên Xô nhiều nhất chừng 150.000 tấn), Châu Á 1.300.000 tấn, Ấn Độ và Trung Quốc mỗi nước 600.000 tấn; cả ba nước Việt Nam, Campuchia, Lào có 10.000 tấn.

Đặc điểm lá cây Thuốc lá

Có những lá rất to, dài tới 70 cm, rộng 45 cm, mọc cách, hình bầu dục hay hình mác; lá tươi hơi dày, nguyên, có lông ở cả 2 mặt, sờ dinh dính. Những lá phía trên thường không cuống hay ôm vào thân, những lá phía dưới có cuống ngắn nhưng có dìa phiến. Mùi vị đặc biệt, khó chịu, buồn nôn.

Giải phẫu lá:

  • Lá có nhu mô dị thể, bất đối xứng; ở 2 mặt lá có lông che chở đa bào, xếp thành một hàng, lông bài tiết (chân đao bào xếp thành một một hàng, đầu thường đa bào).
  • Chỉ có một hàng mô dậu.
  • Bó libe gỗ của 2 gân chính có libe bọc ở hai mặt gỗ.
  • Tinh thể canxi oxalat ở rải rác khắp trong diệp lục

Hoa cây Thuốc lá

Thành phần hóa học

Trong lá có:

  • Các chất anbuminoit tỷ lệ tăng dần từ phía dưới lên phía ngọn cây: lá càng ở phai dưới cây, tỷ lệ càng thấp: 282 – 350 mg%. Tỷ lệ tăng cho tới lúc ra hoa.
  • Các chất béo 2,39%: olein, butyrin, panmitin.
  • Các hydrocacbua 0,77%
  • Sterol 0,4%
  • Sáp 0,15%
  • Metanol 0,2 – 0,4%
  • Nhựa, gôm, đường, tinh bột
  • Ba heterozit: tabacin, tabacilin và 0,25 – 1,7% isoquexitrin. Chất isoquexitrin thủy pahan sẽ cho D-glucosa và querxetin, một aglycon có màu vàng, thuộc nhóm flavonol có công thức C15H10O7.2H2
  • Các muối photphat, nitrat, malat xitrat, canxi và kali (17-24% tro)
  • Acid nicotianic và acid clorogenic
  • Tinh dầu 0,1 – 0,4%
  • Các alcaloid: nicotin, nicotellin, nicotinin. Alcaloid quan trọng nhất là nicotin C10H14N Nicotin có trong cây dưới dạng malat, xitrat. Tỷ lệ thay đổi tùy theo thứ,tuổi, khí hậu, đất trồng và khoảng cách trồng tỉa.

Theo sự nghiên cứu của Hothes và Hicke (1943), nicotin được tổng hợp ở rễ cây, có nhiều nhất vào lúc hạt chín, nhưng sau hết dần, có lẽ được cây sử dụng trong việc tổng hợ protit. Nó tập trung trong các lá. Chaze đã chứng minh rằng nicotin tiết qua lông bài tiết của biểu bì.

Tỷ lệ Nicotin trong là từ 2% (Havane) đến 3,24% – 4,94% (Pháp); có loại thuốc lá trồng với múc đích lấy nicotin, tỷ lệ lên tới 16%. Ngược lại, có khi người ta trồng loại thuốc lá ít nicotin, tỷ lệ chri có 0,048 – 0,078%, có khi không còn nicotin nữa.

Nicotin là một alcaloid lỏng, không có oxy. Khong mày, trong tỷ trọng 1,027. Cho hơi có mùi hắc, khói trắng khi để một que có nhúng HCl vào. Mùi pyridin, vị nóng khó chịt. Ra ánh sáng sẽ ngả màu nâu và bị hỏng. Tan trong nước, rượu, ete. Sôi ở 247o và bị phá hủy. Có thể cất dưới áp lực giảm. Có tính kiềm mạnh; cho muối rất tan trong nước nhưng rất khó kết tinh.

Khói thuốc lá gồm 3 loại chất:

  • Các chất nicotin, tinh dầu, nhựa, acid resinic, parafin, một ít rượu.
  • Các chất do sự đốt cháy xelulosa, chất protein, …
  • Các chất do đốt cháy và phân hủy các tinh dầu; nicotin thành pyridin, …

Trong khói thuốc lá, người ta phân tích ra được CO, CO2, H2S, acid sunfoxyanic, HCN, focmol, acid acetic, propionic, valerianic.

Mới đây người ta tìm trong thuốc lá thấy một chất có thể gây ra bệnh ung thư.

Đó là chưa kết các chất do sự phân hủy nhưng loại thuốc lá có thêm nước cam thảo, rượu rhum, tinh dầu, …

Thuốc lá bớt nicotin: Vì nicotin độc, cho nên người ta đã tìm cách lọc bớt đi bằng cách đặt giữa thuốc lá và miệng một ít bông, giấy lọc, than. Có khi thấm thêm acid malic, tactric, muối sắt, … để giữ một phần nicotin lại (bằng cách này, tỷ lệ nicotin giảm chừng 50%). Người ta còn loại bớt nicotin bằng cách nâm lá vào nước có ít vôi; hoặc tìm cách giảm nicotin ngay từ khi trồng cây.

Lá Thuốc lá khô

Tác dụng sinh lý và độc tính

Tuy tác dụng chính do nicotin, nhưng những chất khác cũng rất quan trọng, ví dụ có thứ thuốc lá tỷ lệ nicotin tháp nhưng rất tác dụng.

Tại chỗ, thuốc lá gây sốt.

Nicotin: tiêm bắt thịt 1mg cluhydrat nicotin sẽ gây trên người một sự tăng tỷ lệ đường trong máu, liều nhỏ tăng sự bài tiết nước dãi, giãn đồng tử.

Nicotin kích thích các trung tâm hô hấp, giảm phản xạ.

Đối với ruột, nó kích thích sự co bóp (giúp cho sự đại tiện), người lại nó làm chậm sự bài tiết nước mật và dịch tụy.

Bài tiết qua nước tiểu, nước bọt, mồ hôi; cho các phản ứng của nicotiamit cho nên có thể làm sai kết quả sự định lượng vitamin PP trong nước tiểu.

Độc tính của thuốc lá rõ rệt: tác dụng rất mạng đối với sâu bọ, ếch, chó, lợn, mèo, thỏ. Bò cũng bị ngộ độc. Nhưng nhiều giống nhai lại ăn lá thuốc lá mà không bị ngộ độc.

Lá non ít nguy hiểm hơn lá già.

Thịt súc vật ăn lá thuôc slas không ăn được vì nicotin chỉ bốc hơi đi ở nhiệt độ cao.

Công dụng và liều dùng

Thuốc lá ít dùng làm thuốc. Nhưng rất hay dùng trong khoa thú y và trồng cây.

Nước nâm hay nước sắc thuốc lá, thuốc lào (10o/oo) lá hỏng vụng, thân cây được dùng để diệt ký sinh trùng các cây hay các giống vật.

  • Đối với cây: hoặc dùng nước ngâm nguyên chất (150 Bô mê) hoặc pha loãng chút ít.
  • Đối với súc vật: thêm 100g Na2CO3 trong một lít dng dịch và pha loãng với nước để dung dịch chứa chừng 1,5 o/oo Bôi lên dao không cạo lông, không xây sát để tránh thấm vào cơ thể và khỏi bị ngộ độc. Trừ chấy, rận, bọ chó.
  • Để trị giun sán của súc vật, ta dùng cao thuốc lá chứa 40% nicotin. Bò dngf 5 – 6 ml, dê: 1 – 2 ml.

Nhân dân thường dịt thuốc lào, thuốc lá vào nơi bị đứt chảy máu.

Dầu hạt thuốc lá dùng trong kỹ nghệ sơn và vec-ni vì là một loại dầu thô được.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Giao hàng toàn quốc (Tận nơi - Giá tốt)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin

096 419 6541